Vốn của công ty cổ phần

  • Tác giả: Nguyễn Kiều |
  • Cập nhật: 03/03/2022 |
  • Tư vấn doanh nghiệp |
  • 73 Lượt xem

Các loại cổ phần, cổ phiếu

– Cổ phần 

Đặc trưng của công ty cổ phần là vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần (mệnh giá cổ phần) do công ty quyết định và ghi vào cổ phiếu trừ trường hợp quy định tại Luật chứng khoán. 

Công ty cổ phần có hai loại cổ phần: cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi. Trong đó, cổ phần phổ thông bắt buộc phải có trong công ty cổ phần, cổ phần ưu đãi có thể có hoặc có thể không có do Điều lệ công ty quyết định. 

Các cổ phần ưu đãi gồm có: cổ phần ưu đãi biểu quyết; cổ phần ưu đãi cổ tức; cổ phần ưu đãi hoàn lại; cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quyết định. 

Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông. Tuy nhiên, chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông. Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác. Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ động phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm. Nhưng cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. 

Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại. Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. 

Mỗi cổ phần cùng loại tạo cho người sở hữu nó quyền và nghĩa vụ ngang nhau. Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông. 

– Cổ phiếu 

Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Trước đây, Bộ Tài chính đã từng ban hành Thông tư số 86/2003/TT-BTC ngày 11 tháng 9 năm 2003 hướng dẫn mẫu tờ cổ phiếu và sổ chứng nhận cổ đông trong các công ty cổ phần (đây là thông tư hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 1999). Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không quy định về hình thức bắt buộc của cổ phiếu. Cổ phiếu chỉ cần đảm bảo có các nội dung chủ yếu theo quy định của pháp luật: 

+ Tên, mã số doanh nghiệp; địa chỉ trụ sở chính của công ty;

+ Số lượng cổ phần và loại cổ phần; 

+ Mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu; 

+ Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số quyết định thành lập, địa chỉ trụ sở chính của cổ đông là tổ chức; 

+ Tóm tắt về thủ tục chuyển nhượng cổ phần; 

+ Chữ ký của người đại diện theo pháp luật và dấu của công ty (nếu có); 

+ Số đăng ký tại sổ đăng ký cổ đông của công ty và ngày phát hành cổ phiếu; 

+ Các nội dung khác theo quy định tại các Điều 116, 117, 118 của Luật Doanh nghiệp 2014 đối với cổ phiếu của cổ phần ưu đãi. 

Trường hợp có sai sót trong nội dung và hình thức cổ phiếu do công ty phát hành thì quyền và lợi ích của người sở hữu nó không bị ảnh hưởng. Người đại diện theo pháp luật của công ty chịu trách nhiệm về thiệt hại do những sai sót đó gây ra. 

Hiện nay, theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, cổ phiếu bắt buộc phải ghi họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ đông là cá nhân; tên mã số doanh nghiệp hoặc số quyết định thành lập, địa chỉ trụ sở chính của cổ đông là tổ chức (điểm d khoản 1 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2014). Đây là quy định mới và khác biệt so với Luật Doanh nghiệp 2005. Trước đây Luật Doanh nghiệp 2005 cho phép cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên (khoản 1 Điều 85 Luật Doanh nghiệp 2005). Cổ phiếu có thể ghi nhận một hoặc nhiều cổ phần. 

Mệnh giá cổ phiếu là giá trị danh nghĩa của cổ phiếu. Pháp luật quy định mệnh giá cổ phiếu của công ty đã niêm yết tối thiểu là 10.000 đồng (Điều 10 Luật Chứng khoán 2006). Công ty chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán có thể ghi nhận mệnh giá cổ phiếu với giá trị cao hơn. Thực tế hiện nay, các công ty cổ phần hầu hết đều dùng mệnh giá cổ phiếu tối thiểu là 10.000 đồng. 

Góp vốn 

Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã thành lập. 

Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. 

Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam. Tài sản góp vốn khi thành lập công ty phải được các cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí. Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá theo sự chấp thuận của doanh nghiệp và người góp vốn. 

Cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty. Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ. Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản. 2 Tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán. Các cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn. Trong thời hạn từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến ngày cuối cùng phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua, số phiếu biểu quyết của các cổ đông được tính theo số cổ phần phổ thông đã được đăng ký mua, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác. 

 Huy động vốn 

Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có quyền huy động vốn nhằm tăng vốn kinh doanh hiện có, đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ việc sản xuất kinh doanh. Các hình thức huy động vốn của công ty cổ phần khá linh hoạt. Việc huy động vốn có thể diễn ra dưới rất nhiều hình thức khác nhau như phát hành thêm cổ phần, phát hành trái phiếu, giao kết hợp đồng vay tài sản, giao kết hợp đồng vay tín dụng. Điều đó tạo cho công ty cổ phần có nhiều cơ hội về mặt tài chính hơn trong hoạt động kinh doanh của mình. Đây có thể coi là lợi thế quan trọng của công ty cổ phần so với các doanh nghiệp nói riêng và chủ thể kinh doanh nói chung.

Trong phạm vi và mục đích nghiên cứu của cuốn sách này, tác giả đề cập đến hai hình thức huy động vốn đặc trưng của công ty cổ phần là phát hành thêm cổ phần và phát hành trái phiếu. Với các hình thức huy động vốn khác như giao kết hợp đồng vay tài sản, giao kết hợp đồng vay tín dụng được tìm hiểu dưới góc độ của Bộ luật Dân sự hay Luật các tổ chức tín dụng. 

– Chào bán cổ phần 

Chào bán cổ phần là việc công ty tăng thêm số lượng cổ phần được quyền chào bán và bán các cổ phần đó trong quá trình hoạt động để tăng vốn điều lệ. 

Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và giá bán cổ phần. Giá bán cổ phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gần nhất, trừ trường hợp: 

+ Cổ phần chào bán lần đầu tiên cho những người không phải là cổ đông sáng lập; 

+ Cổ phần chào bán cho tất cả cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ ở công ty; 

+ Cổ phần chào bán cho người môi giới hoặc người bảo lãnh. Trường hợp này, số chiết khấu hoặc tỷ lệ chiết khấu cụ thể phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác. 

– Chào bán cho các cổ đông hiện hữu 

Chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu là trường hợp công ty tăng thêm số lượng cổ phần được quyền chào bán và bán toàn bộ số cổ phần đó cho tất cả cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ tại công ty. 

Chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu của công ty cổ phần không phải là công ty cổ phần đại chúng thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 (khoản 2 Điều 124 Luật Doanh nghiệp 2014). Công ty phải thông báo bằng văn bản đến các cổ đông chậm nhất 15 ngày trước ngày kết thúc thời hạn đăng ký mua cổ phần. Kèm theo thông báo phải có mẫu phiếu đăng ký mua cổ phần do công ty phát hành.

Trường hợp phiếu đăng ký mua cổ phần không được gửi về công ty đúng hạn như thông báo thì cổ đông có liên quan coi như đã không nhận quyền ưu tiên mua. Cổ đông có quyền chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần của mình cho người khác.

 Trường hợp cổ phần dự kiến chào bán không được cổ đông và người nhận chuyển quyền ưu tiên mua đăng ký mua hết thì Hội đồng quản trị có quyền bán số cổ phần được quyền chào bán còn lại cho cổ đông hoặc người khác theo cách thức hợp lý với điều kiện không thuận lợi hơn những điều điện đã chào bán cho các cổ đông, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông có chấp thuận khác hoặc cổ phần được bán qua Sở giao dịch chứng khoán. 

Chào bán cổ phần của công ty cổ phần niêm yết và đại chúng thực hiện theo các quy định của pháp luật về chứng khoán. 

– Chào bán cổ phần ra công chúng 

Chào bán cổ phần ra công chúng là việc chào bán cổ phần theo một trong các phương thức sau đây: 

+ Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả internet; 

+ Chào bán cổ phần cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; 

+ Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định. 

Hình thức chào bán cổ phần ra công chúng bao gồm chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng, chào bán thêm cổ phần hoặc quyền mua cổ phần ra công chúng và các hình thức khác. Điều kiện chào bán cổ phần ra công chúng gồm: 

+ Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; 

+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán; 

+ Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua. 

Chào bán cổ phần ra công chúng thực hiện theo các quy định của pháp luật về chứng khoán. 

– Chào bán cổ phần riêng lẻ

Chào bán cổ phần riêng lẻ là việc công ty cổ phần chào bán cổ phần cho dưới một trăm nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc internet. | Việc chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty cổ phần đại chúng được thực hiện theo quy định của pháp luật chứng khoán. 

Việc chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty cổ phần không phải là công ty cổ phần đại chúng được thực hiện theo quy định tại Điều 123 Luật Doanh nghiệp 2014. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định chào bán cổ phần riêng lẻ, công ty phải thông báo việc chào bán cổ phần riêng lẻ với cơ quan đăng ký kinh doanh. Công ty có quyền bán cổ phần sau 05 ngày làm việc, kể từ ngày gửi thông báo mà không nhận được ý kiến phản đối của Cơ quan đăng ký kinh doanh. 

 Phát hành trái phiếu 

Công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. 

Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của công ty cổ phần phát hành. Trái phiếu thực chất là một hợp đồng vay để tăng vốn vay của công ty. 

Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật để đáp ứng nhu cầu cho vốn kinh doanh. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định khác thì Hội đồng quản trị có quyền quyết định loại trái phiếu, tổng giá trị trái phiếu và thời điểm phát hành. 

Công ty không được phát hành trái phiếu trong trường hợp: – Không thanh toán đủ cả gốc và lãi của trái phiếu đã phát hành; 

– Không thanh toán hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ đến hạn trong 03 năm liên tiếp trước đó. 

Việc phát hành trái phiếu cho các chủ nợ là tổ chức tài chính được lựa chọn không bị hạn chế bởi quy định trên.

 Lưu ý: Sự khác biệt cơ bản nhất giữa việc sở hữu cổ phần/cổ 

phiếu và sở hữu trái phiếu thể hiện ở một số điểm chính sau đây: 

– Thứ nhất, người sở hữu cổ phần trở thành cổ đông của công ty cổ phần phát hành, có những quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu doanh nghiệp, tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Người mua trái phiếu trở thành chủ nợ của công ty, có quyền được nhận thanh toán các khoản nợ gốc và khoản lãi theo cam kết, không có quyền tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. 

– Thứ hai, người sở hữu cổ phần chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty. Người mua trái phiếu không phải chịu trách nhiệm thanh toán nợ của công ty, mà ngược lại, công ty phải trả nợ và lãi cho họ. 

– Thứ ba, việc phát hành cổ phần làm tăng vốn điều lệ của công ty và có thể làm thay đổi đến quyền quản trị công ty. Việc phát hành trái phiếu làm tăng vốn vay của công ty và không ảnh hưởng đến quyền quản trị công ty. 

Một số hình thức huy động vốn 

Ngoài các hình thức huy động vốn nêu trên, có thể kể đến các hình thức huy động vốn khác được ghi nhận trong Điều lệ như vay tài sản, vay tín dụng, chuyển từ các quỹ sở hữu, giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư và chuyển thành cổ phần cho các cổ động, chuyển trái phiếu thành cổ phiếu theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và quy định của pháp luật,… 

 

Tăng, giảm vốn điều lệ 

Trong suốt quá trình công ty cổ phần hoạt động, vốn điều lệ có thể tăng hoặc giảm. Với mỗi lần điều chỉnh vốn điều lệ công ty cổ phần phải thực hiện thủ tục sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh. 

Tăng vốn điều lệ

Công ty cổ phần có thể tăng vốn điều lệ qua các hình thức: 

– Phát hành cổ phiếu mới để huy động thêm vốn theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp cơ cấu lại nợ của doanh nghiệp theo hình thức chuyển nợ thành cổ phần theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp và các chủ nợ. 

– Chuyển đổi trái phiếu đã phát hành thành cổ phần. – Trả cổ tức bằng cổ phiếu. 

– Phát hành cổ phiếu mới để thực hiện sáp nhập một bộ phận hoặc toàn bộ doanh nghiệp khác vào công ty. 

– Kết chuyển nguồn thặng dư vốn để bổ sung tăng vốn điều lệ.

Giảm vốn điều lệ

Công ty cổ phần giảm vốn điều lệ qua các hình thức: 

– Sau 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các cổ đông sáng lập và cổ động phổ thông khác đã đăng ký mua cổ phần mà vẫn chưa thanh toán đủ. 

– Theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, công ty hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty nếu công ty đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 2 năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho cổ đông

– Khi công ty mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông (Điều 129 Luật Doanh nghiệp 2014) hoặc theo quyết định của công ty (Điều 130 Luật Doanh nghiệp 2014). 

Chuyển nhượng và mua lại cổ phần

 Chuyển nhượng cổ phần 

Người sở hữu cổ phần có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. 

Trường hợp cấm chuyển nhượng: Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác. 

Trường hợp hạn chế chuyển nhượng: Trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cho các cổ đông sáng lập khác và có thể chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó. Sau thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều bãi bỏ. Ngoài ra, trường hợp hạn chế chuyển nhượng cổ phần còn có thể quy định tại Điều lệ công ty và được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng. 

Cổ phần được coi là đã chuyển nhượng khi ghi đúng và đủ vào sổ đăng ký cổ đông và các thông tin về tên, địa chỉ người nhận chuyển nhượng, số lượng cổ phần từng loại, ngày đăng ký cổ phần. Kể từ thời điểm đó, người nhận chuyển nhượng cổ phần trở thành cổ đông của công ty. Trường hợp cổ đông chuyển nhượng cổ phần của mình trong thời gian giữa thời điểm kết thúc lập danh sách cổ đông và thời điểm trả cổ tức thì người chuyển nhượng là người nhận cổ tức từ công ty. 

Có thể nói công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp “mở”, thể hiện ở tính tự do trong việc chuyển nhượng cổ phần. Khác với chủ doanh nghiệp tư nhân, các thành viên hợp danh, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ đông của công ty cổ phần được tự do quyết định việc chuyển nhượng cổ phần, người dự định nhận chuyển nhượng (trừ trường hợp cấm chuyển nhượng và hạn chế chuyển nhượng). 

Mua lại cổ phần 

Công ty chỉ được quyền thanh toán cổ phần được mua lại cho cổ đông nếu ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Sau khi thanh toán hết số cổ phần mua lại, nếu tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty giảm hơn 10% thì công ty phải thông báo cho tất cả các chủ nợ biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thanh toán hết số cổ phần mua lại. 

– Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông 

Không phải mọi yêu cầu từ bất kỳ cổ đông nào cũng đặt ra nghĩa vụ mua lại cổ phần đối với công ty cổ phần. Chỉ cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty mới có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Yêu cầu phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị quyết về các vấn đề nêu trên. 

Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ động với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng

– Mua lại cổ phần theo quyết định của công ty 

Công ty có quyền mua lại không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán, một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán theo quy định: 

+ Hội đồng quản trị có quyền quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại được chào bán trong 12 tháng. Trường hợp khác việc mua lại cổ phần do Đại hội đồng cổ đông quyết định. 

+ Hội đồng quản trị quyết định giá mua lại cổ phần. Đối với cổ phần phổ thông, giá mua lại không được cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua lại. Đối với cổ phần loại khác, nếu Điều lệ công ty không quy định hoặc công ty và cổ đông có liên quan không có thỏa thuận khác thì giá mua lại không được thấp hơn giá thị trường.

 Như vậy, cổ phần của cổ đông trong công ty cổ phần có thể được chuyển nhượng hoặc mua lại. Về bản chất, chuyển nhượng cổ phần và mua lại cổ phần đều là quan hệ mua bán, làm thay đổi chủ sở hữu đối với cổ phần được bán chuyển nhượng. Bên cạnh đó, chuyển nhượng cổ phần và mua lại cổ phần có những điểm phân biệt như sau: 

Thứ nhất, về chủ thể: Bên mua trong giao dịch chuyển nhượng cổ phần là tổ chức, cá nhân đủ điều kiện để trở thành cổ đông công ty cổ phần. Bên mua trong giao dịch mua lại cổ phần chính là công ty đã phát hành cổ phần. 

Thứ hai, về điều kiện thực hiện: Giao dịch chuyển nhượng cổ phần tương đối tự do, trừ trường hợp cấm chuyển nhượng và hạn chế chuyển nhượng. Giao dịch mua lại cổ phần chỉ thực hiện trong trường hợp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp (Điều 129 và Điều 130 Luật Doanh nghiệp 2014). 

Thứ ba, về hệ quả: Chuyển nhượng cổ phần không làm thay đổi vốn điều lệ, chỉ có thể làm thay đổi danh sách cổ đông hoặc tỷ lệ sở hữu cổ phần. Mua lại cổ phần không làm thay đổi vốn điều lệ ngay, tuy nhiên, công ty phải làm thủ tục điều chỉnh giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng giá trị mệnh giá các cổ phần được công ty mua lại trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán mua lại cổ phần. Mua lại cổ phần có thể làm thay đổi danh sách cổ đông và tỷ lệ sở hữu cổ phần.

 Chú ý: Nếu chủ thể bán trong giao dịch chuyển nhượng cổ phần và mua lại cổ phần là cổ đông sáng lập của công ty cổ phần đã phát hành ra chính những cổ phần đó, các bên liên quan cần chú ý đến quy định “Cổ đông sáng lập là cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông và ký tên trong danh sách cổ đông sáng lập công ty cổ phần” (khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014) để giao dịch chuyển nhượng cổ phần hoặc mua lại cổ phần phù hợp với các quy định pháp luật. 

Thừa kế cổ phần trong công ty cổ phần 

Để lại di sản thừa kế và nhận thừa kế là quyền của mỗi chủ thể được ghi nhận trong pháp luật dân sự nói chung. Ở công ty hợp danh, quyền thừa kế phần vốn góp của thành viên hợp danh chỉ dừng lại ở việc hưởng giá trị tài sản tại công ty, còn người thừa kế có trở thành thành viên hợp danh hay không phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng thành viên. Ngoài ra, tại các doanh nghiệp khác trong đó bao gồm công ty cổ phần, thành viên đều có quyền để tại di sản thừa kế và người thừa kế có quyền trở thành thành viên doanh nghiệp nếu đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật. 

– Theo Luật Doanh nghiệp 2014, trường hợp cổ đông là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của cổ đông đó là cổ đông của công ty. 

Trường hợp cổ phần của cổ đông là cá nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì số cổ phần đó được giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự. 

->>>>> Tham khảo thêm: Thành lập công ty cổ phần