Truy cứu trách nhiệm hình sự là gì?

  • Tác giả: Phương Thảo |
  • Cập nhật: 21/12/2020 |
  • Tư vấn pháp luật |
  • 236 Lượt xem

Cách đây 9 năm, cả nước chấn động với vụ án cướp tiệm vàng của Lê Văn Luyện. Khi đó, Luyện bị truy cứu trách nhiệm hình sự với 03 tội danh “Giết người”, “Cướp của”, và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Vậy truy cứu trách nhiệm hình sự là gì? Sau đây, TBT Việt Nam sẽ giúp bạn đọc giải đáp những thắc mắc liên quan tới vấn đề trên.

Truy cứu trách nhiệm hình sự là gì?

Truy cứu trách nhiệm hình sự là việc áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự để buộc người đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi ấy.

Người có khả năng nhận thức được hành vi của mình, có khả năng điều khiển được hành vi đó là người có năng lực trách nhiệm hình sự và sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu người đó thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự.

Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trong đó, trách nhiệm pháp lý được hiểu là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật thể hiện qua việc họ phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế nhà nước đã được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật vì sự vi phạm pháp luật của họ.

Nếu hành vi vi phạm những quy định tại Bộ luật Hình sự, thì chủ thể đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Để giúp Quý độc giả có thêm thông tin giải đáp truy cứu trách nhiệm hình sự là gì? chúng tôi sẽ cung cấp một số nội dung quy định pháp luật có liên quan trong các phần tiếp theo của bài viết.

Những trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Về nguyên tắc đúng là mọi hành vi phạm tội đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp nhất định, chủ thể vi phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự hay bị truy cứu trách nhiệm. Cụ thể:

Không phải chịu trách nhiệm hình sự

– Thân nhân người phạm tội (bao gồm: ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng) thực hiện che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm sẽ không bị truy cứu trách nhiệm về 02 tội danh trên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

– Do tính chất và đặc thù công việc, người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

– Khi xảy ra sự kiện bất người khiến người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không có năng lực trách nhiệm hình sự.

– Những hành vi vi phạm nhưng không bị xem là tội phạm, vì vậy không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:

+ Hành vi phòng vệ chính đáng.

Trong đó, phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình hoặc chủ thể khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

+ Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết

Chỉ được xem là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết khi và chỉ khi:

Tình thế bất ngờ xảy ra và có thể gây bất lợi trên thực tế đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể cũng như người khác; và

Việc gây ra thiệt hại là bắt buộc và phải là thiệt hại tối thiểu.

+ Hành vi bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ.

Tuy nhiên, nếu hành vi sử dụng vũ lực gây thiệt hại  rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

+ Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa.

+ Hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đồng thời hành vi này đảm bảo những điều kiện sau:

Mục đích hành vi là để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó.

Những trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự

– Người thực hiện hành vi phạm tội nhưng thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự đã hết . Tùy vào hành vi và mức độ vi phạm thì thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mỗi chủ thể là khác nhau.

– Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS năm 2015 nhưng bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất không yêu cầu khởi tố.

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự (dưới 14 tuổi).

– Trường hợp đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

Trên đây là toàn bộ nội dung liên quan đến vấn đề Truy cứu trách nhiệm hình sự là gì? Mọi thắc mắc liên quan tới nội dung bài viết, quý vị có thể liên hệ qua tổng đài tư vấn 1900 6560 để được giải đáp nhanh chóng nhất.

Trân trọng cảm ơn!