Trong triết học điểm nút được hiểu là gì?

  • Tác giả: Phạm Thị Kim Oanh |
  • Cập nhật: 04/03/2024 |
  • WIKI hỏi đáp |
  • 3268 Lượt xem
5/5 - (6 bình chọn)

Trong triết học điểm nút được hiểu là gì?

Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi căn bản về chất của sự vật, hiện tượng. Sự thay đổi về lượng khi đạt tới “điểm nút”, với những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới thông qua “bước nhảy” căn bản về chất.

Ví dụ về điểm nút trong triết học

Một ví dụ về điểm nút trong triết học là quá trình tự nhiên của nước từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn (đóng băng). Nếu ta giảm độ ẩm và nhiệt độ của nước, thì ở một điểm nào đó, nước sẽ chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn, tạo ra sự chuyển đổi lớn về căn bản về chất của nó. Điểm nút ở đây có thể là nhiệt độ 0 độ C hoặc áp suất nhất định, tại đó sự chuyển đổi từ lỏng sang rắn xảy ra.

Một ví dụ khác có thể là sự phát triển của một bộ não. Các nhà khoa học cho rằng sự phát triển của bộ não là quá trình cảm biến những kích thích mới và phải đối mặt với các thách thức khác nhau, mà trong đó sự phát triển bị giới hạn bởi một số điểm nút quan trọng. Khi một bộ não đối mặt với một thách thức đủ lớn, nó có thể trải qua một “bước nhảy” căn bản trong khả năng tư duy và hiểu biết của nó, tạo ra sự chuyển đổi lớn về chất. Các điểm nút trong sự phát triển của bộ não có thể là những giai đoạn tuổi thơ, độ tuổi vị thành niên hoặc những trải nghiệm đầu tiên về học tập và giao tiếp.

Một ví dụ khác là Người học viên khi ra trường trở thành người nhân viên chuyên môn kỹ thuật sẽ được bổ sung những yếu tố mới về mặt phẩm chất đạo đức, về năng lực chuyên môn… sẽ giúp người nhân viên biến đổi nhanh hơn về chất.

Bước nhảy trong triết học là gì?

Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thay đổi căn bản về chất của sự vật, hiện tượng do sự thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng trước đó gây nên. “Bước nhảy” là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển, đồng thời đó cũng là điểm khởi đầu cho một giai đoạn vận động, phát triển mới của sự vật, hiện tượng.

Trong triết học, thuật ngữ “bước nhảy” (tiếng Anh: “leap”) được sử dụng để chỉ một sự chuyển đổi lớn về căn bản về chất của sự vật, hiện tượng hoặc một hệ thống mà không có sự chuyển đổi nhỏ về lượng. Nó thường được sử dụng để mô tả quá trình chuyển đổi từ một trạng thái đến một trạng thái khác, mà giữa hai trạng thái đó không có sự tương quan hoặc liên kết rõ ràng.

Bước nhảy có thể được hiểu như một quá trình bất ngờ và đột ngột, khi một sự thay đổi nhỏ trong một hệ thống dẫn đến một sự thay đổi lớn về chất, mà không có sự chuyển đổi trung gian. Sự thay đổi lớn về căn bản về chất có thể gây ra một sự hiểu biết mới và sâu sắc hơn về sự vật hoặc hiện tượng đó.

Ví dụ về bước nhảy trong triết học

Một ví dụ về bước nhảy trong triết học là quá trình chuyển đổi của các nguyên tử từ trạng thái ổn định sang trạng thái kích thích. Khi một nguyên tử bị kích thích bởi ánh sáng hoặc năng lượng từ bên ngoài, nó có thể chuyển đổi đột ngột từ trạng thái thấp hơn sang trạng thái cao hơn, tạo ra sự chuyển đổi lớn về căn bản về chất và phát ra ánh sáng. Quá trình chuyển đổi này không có sự chuyển đổi nhỏ về lượng, và được gọi là bước nhảy.

Một ví dụ khác về bước nhảy trong triết học là sự phát triển của tư duy con người. Theo triết gia Jean Piaget, sự phát triển tư duy của trẻ em diễn ra bằng cách tiến hóa qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn đều tạo ra một sự chuyển đổi lớn về căn bản về chất. Các giai đoạn này là: giai đoạn cảm giác-motor (từ sinh đến 2 tuổi), giai đoạn vận động tư duy (từ 2 đến 7 tuổi), giai đoạn hoạt động tư duy cụ thể (từ 7 đến 11 tuổi), và giai đoạn hoạt động tư duy trừu tượng (từ 11 tuổi trở lên).

Mỗi giai đoạn tư duy của trẻ em đều là một bước nhảy trong sự phát triển của tư duy con người. Trong mỗi giai đoạn, trẻ em phát triển một tầm nhìn và hiểu biết mới và sâu sắc hơn về thế giới xung quanh, và chúng không thể đạt được bằng cách chuyển đổi từ một giai đoạn sang giai đoạn khác thông qua sự chuyển đổi nhỏ về lượng. Mỗi giai đoạn tư duy của trẻ em tạo ra một sự chuyển đổi lớn về căn bản về chất và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của tư duy con người.

Độ trong triết học là gì?

Khái niệm “độ” dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó có sự thống nhất giữa chất và lượng (trong khoảng đó, những biến đổi của lượng chưa làm cho chất tương ứng của nó thay đổi).

Trong triết học, thuật ngữ “độ” (tiếng Anh: “degree”) được sử dụng để chỉ mức độ của một tính chất hoặc thuộc tính trong một sự vật, hiện tượng hoặc hệ thống. Độ có thể được hiểu như một đơn vị đo lường, thường được đo bằng các phép đo lường lượng học hoặc các phương pháp khác.

Độ được sử dụng để chỉ mức độ của sự hiện diện hoặc sự tồn tại của một sự vật hoặc hiện tượng. Sự tồn tại của một sự vật có thể được đo bằng độ thực tế hoặc độ khả thi của nó, cũng như độ tự chủ của nó. Nói cách khác, độ được sử dụng để xác định mức độ của sự vật hoặc hiện tượng trong thế giới và xác định cách mà chúng tương tác với thế giới xung quanh.

Ví dụ về độ trong triết học

Sinh viên tích lũy một lượng kiến thức đủ mới trở thành cử nhân. Trong đó: lượng là lượng kiến thức phải đạt được, chất là sinh viên. Độ là từ năm 1 đến năm 4, còn điểm nút chính là năm 1 và năm 4,  bước nhảy chính là từ sinh viên lên cử nhân. Lúc này, chất là cử nhân.

Xét “nước” (H20) nguyên chất, trong điều kiện atmotphe ở trạng thái thể lỏng (chất) được quy định bởi lượng nhiệt độ (lượng) từ 0°C đến 100°C (độ). Khi lượng nhiệt độ biến thiên nằm ngoài khoảng giới hạn 0°C hoặc 100°C đó (điểm nút) thì tất yếu xảy ra quá trình biến đổi trạng thái của nước từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn hoặc khí (bước nhảy).

Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng

Các khái niệm điểm nút, bước nhảy và độ thường được nhắc đến khi đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất, do đó, chúng tôi có chia sẻ thêm.

Khái niệm “chất” dùng để chỉ tính quy định của sự vật về phương diện tổng hợp các thuộc tính cơ bản, khách quan, vốn có của một sự vật nào đó; cái mà nhờ đó, sự vật là nó, khác với sự vật khác.

Khái niệm “lượng” dùng để chỉ tính quy định khách quan, vốn có của sự vật (tạo thành cơ sở khách quan cho sự tồn tại của chất của sự vật) về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật.

Một sự vật có thể có nhiêu loại lượng và nhiều loại chất (tương ứng với từng loại lượng cụ thể).

–       Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng với tư cách là phương thức vận động, phát triển của sự vật:

+ Chất và lượng của sự vật là hai mặt của cùng một sự vật, chúng tồn tại trong tính quy định lẫn nhau: tương ứng với một loại lượng nhất định thì cũng có một loại chất tương ứng và ngược lại.

Ví dụ, tương ứng với cấu tạo H – 0 – H (cấu tạo liên kết nguyên tử hyđrô và 1 nguyên tử ôxy) thì 1 phân tử nước (H20) được hình thành với tập hợp các tính chất cơ bản, khách quan, vốn có của nó là: không màu, không mùi, không vị, có thể hoà tan muối, axít,…

+ Vì giữa chúng có mối quan hệ quy định lẫn nhau như vậy, nên những sự biến đổi về lượng sẽ tất yếu có khả năng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại.

Ví dụ, quy định nên trạng thái thể lỏng của nước chính là lượng nhiệt độ của nó (chứ không phải là số lượng nguyên tử hyđrô và ôxy); do vậy, khi lượng nhiệt độ này biến thiên thì tất yếu có khả năng dẫn tới sự biến đổi về trạng thái của nước sang thể rắn hay lỏng.

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa chất và lượng của sự vật có những sự tồn tại độc lập tương ứng. Vì vậy, không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng ngay lập tức có thể dẫn đến sự thay đổi về chất của nó. Sự thay đổi này chỉ có thể diễn ra trong thực tế với những điều kiện xác định. Thông thường, điều kiện đó là: sự thay đổi của lượng phải đạt tới giới hạn điểm nút.

– Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng

+ Muốn hiểu biết đầy đủ về sự vật, cần phải nghiên cứu trên cả hai phương diện chất và lượng.

Ví dụ, khi nghiên cứu về các chất trong hoá vô cơ hay hữu cơ, người ta không chỉ nghiên cứu để xác định các tính chất hoá học cơ bản vốn có của nó mà còn phải nghiên cứu giải thích tính chất đó được tạo ra bởi số lượng các nguyên tố nào với cấu tạo liên kết nào. Nhờ đó có thể tạo ra sự biến đổi của các chất đó trên cơ sở làm thay đổi lượng tương ứng.

+ Trong thực tiễn, muốn làm thay đổi chất của sự vật thì cần phải làm thay đổi được loại lượng tương ứng với chất đó đến giới hạn điểm nút. Ngược lại, nếu không muốn cho chất của sự vật thay đổi thì cần phải giới hạn sự thay đổi của lượng trong giới hạn của độ.

Ví dụ, để “tiền” có thể biến thành “tư bản” (k) thì cần phải có sự tích luỹ tiền đến một lượng nhất định và trong các điều kiện xác định về mặt chế độ kinh tế, chế độ chính trị xã hội,…

Trên đây là bài viết liên quan đến Trong triết học điểm nút được hiểu là gì? trong chuyên mục Là gì? được Luật Hoàng Phi cung cấp. Quý độc giả có thể tham khảo bài viết khác liên quan tại website tbtvn.org để có thêm thông tin chi tiết.

5/5 - (6 bình chọn)