Quy định về ủy thác tư pháp học thuyết hình thái kinh tế xã hội là gì?

  • Tác giả: Vũ Thu Hà |
  • Cập nhật: 04/03/2024 |
  • WIKI hỏi đáp |
  • 501 Lượt xem
5/5 - (3 bình chọn)

Khách hàng quan tâm đến Quy định về ủy thác tư pháp học thuyết hình thái kinh tế xã hội là gì? Vui lòng theo dõi nội dung bài viết để có thêm thông tin hữu ích.

Hình thái kinh tế xã hội là gì?

Hình thái kinh tế – xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử (hay còn gọi là chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội) dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó.

Hình thái kinh tế – xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, trong đó có các mặt cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Mỗi mặt của hình thái kinh tế – xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau.

Cấu trúc cơ bản của hình thái kinh tế xã hội

Cấu trúc cơ bản của hình thái kinh tế xã hội bao gồm:

– Lực lượng sản xuất: là nền tảng vật chất-kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế – xã hội. Hình thái kinh tế – xã hội khác nhau có lực lượng sản xuất khác nhau. Sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế-xã hội.

– Quan hệ sản xuất: Tạo thành cơ sở hạ tầng của xã hội và quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội khác. Mỗi hình thái kinh tế – xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho nó. Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội.

Tổng hợp lại những quan hệ sản xuất cấu thành cái mà người ta gọi là những quan hệ xã hội, cái gọi là xã hội mà lại là một xã hội ở một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, một xã hội có tính chất độc đáo, riêng biệt. Xã hội cổ đại, xã hội phong kiến, xã hội tư bản đều là những tổng hợp các quan hệ sản xuất theo loại đó mà mỗi tổng thể ấy đồng thời lại tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch sử nhân loại

Kiến trúc thượng tầng được hình thành và phát triển phù hợp với cơ sở hạ tầng, nhưng nó lại là công cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.

– Các yếu tố khác: Ngoài ra, hình thái kinh tế-xã hội các hình thái kinh tế – xã hội còn có quan hệ về gia đình, dân tộc và các quan hệ xã hội khác. Nó còn bao gồm các lĩnh vực chính trị, lĩnh vực tư tưởng và lĩnh vực xã hội. Mỗi lĩnh vực của hình thái kinh tế-xã hội vừa tồn tại độc lập với nhau, vừa tác động qua lại, thống nhất với nhau gắn bó với quan hệ sản xuất và cùng biến đổi với sự biến đổi của quan hệ sản xuất.

Các loại hình thái kinh tế – xã hội

Theo chủ nghĩa Mác-Lenin thì trong lịch sử loài người đã sẽ tuần tự xuất hiện 05 hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao:

– Hình thái kinh tế-xã hội cộng sản nguyên thủy (công xã nguyên thủy)

– Hình thái kinh tế-xã hội chiếm hữu nô lệ (giai cấp chủ nô mang sứ mệnh lịch sử chuyển từ hình thái kinh tế – xã hội cộng sản nguyên thuỷ lên hình thái kinh tế – xã hội chiếm hữu nô lệ) gồm chủ nô và nông nô

– Hình thái kinh tế-xã hội phong kiến (giai cấp phong kiến) gồm địa chủ và nông dân

– Hình thái kinh tế-xã hội tư bản chủ nghĩa (giai cấp tư sản) gồm tri thức, tiểu tư sản

– Hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa (giai cấp công nhân)

Phương thức sản xuất  tư bản chủ nghĩa

Phương thức sản xuất xã hội dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Ra đời thay thế cho phương thức sản xuất phong kiến.

Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, xã hội chia thành hai giai cấp cơ bản đối kháng: giai cấp tư sản (người sở hữu tư liệu sản xuất) và giai cấp vô sản (người bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, buộc phải đi làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản, chịu sự bóc lột của nhà tư bản).

Quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (PTSXTBCN)  là quy luật giá trị thặng dư. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thể hiện sự hơn hẳn của nó so với các phương thức sản xuất trước ở chỗ: lực lượng sản xuất và khoa học – kĩ thuật phát triển mạnh, sản xuất và lao động được xã hội hoá cao trên quy mô lớn, năng suất lao động cao, vv.

Mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất và hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sản phẩm. Mâu thuẫn ấy trở nên đặc biệt gay gắt khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn phát triển cao nhất và cũng là giai đoạn tột cùng, giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.

Mâu thuẫn giai cấp đó kết hợp với mâu thuẫn mới giữa chủ nghĩa đế quốc với các dân tộc bị áp bức dẫn đến sự thay thế bằng phương thức sản xuất mới, tiến bộ hơn như một yếu tố khách quan – phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước “là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội” (Lênin).

Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bị thủ tiêu ở nước Nga do thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười (1917), và sau đó ở một số nước khác do kết quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa gồm Lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa Giai cấp công nhân và quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (Giai cấp tư sản) hai phương thức này đối lập nhau dẫn đến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân dẫ đến cách mạng xã hộ i chủ nghĩa và từ đó xuất hiện hình thái kinh tế xã hội

Theo C. Mac và Ph.Angghen thì sự chuyển biến từ hình thái kinh tế – xã hội thấp lên hình thái kinh tế xã hội cao là quá trình phát triển tự nhiên. Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy 1 thế kỷ đã tạp ra những tư liệu sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ kia gộp lại.

Trên đây là một số chia sẻ của chúng tôi về Quy định về ủy thác tư pháp học thuyết hình thái kinh tế xã hội là gì? Khách hàng theo dõi nội dung bài viết có vướng mắc khác vui lòng liên hệ để chúng tôi hỗ trợ trực tiếp.

5/5 - (3 bình chọn)