Quy định về công ty tnhh 2 thành viên

  • Tác giả: Nguyễn Kiều |
  • Cập nhật: 03/03/2022 |
  • Tư vấn doanh nghiệp |
  • 65 Lượt xem

Tổ chức, quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên

Hội đồng thành viên 

Hội đồng thành viên công ty TNHH 2 thành viên trở lên, bao gồm tất cả các thành viên của công ty. Về chức năng, cơ quan này giữ vai trò quyết định tất cả các vấn đề của công ty và là cơ quan quản lý công ty. Công ty TNHH hai thành viên trở lên không có mô hình quản lý thông qua một cơ quan trung gian như trong quản trị công ty cổ phần (Hội đồng quản trị).

Hội đồng thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng có thể có sự tham gia của người được thành viên uỷ quyền nếu trong trường hợp người này bị tạm giam, bị kết án tù hoặc bị Toà án tước quyền hành nghề theo quy định của Bộ luật hình sự.

Hội đồng thành viên bầu ra Chủ tịch Hội đồng thành viên (nhiệm kỳ không quá 05 năm, bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế) để thực hiện các nhiệm vụ như: Chuẩn bị chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng thành viên; chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu họp Hội đồng thành viên hoặc để lấy ý kiến các thành viên; triệu tập và chủ trì cuộc họp Hội đồng thành viên hoặc tổ chức việc lấy ý kiến các thành viên; giám sát hoặc tổ chức giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng thành viên, thay mặt Hội đồng thành viên ký các nghị quyết của Hội đồng thành viên…

Như vậy, Chủ tịch Hội đồng thành viên không phải là chức danh “quản lý, chỉ đạo” các thành viên còn lại trong Hội đồng thành viên mà chức năng chính là đại diện cho tập thể để thực hiện một số nhiệm vụ nhất định, trừ khi Chủ tịch HĐTV là người đại diện theo pháp luật của công ty.

Về cơ chế làm việc, Hội đồng thành viên làm việc theo cơ chế tập thể, ít nhất mỗi năm họp một lần. Việc tổ chức họp thường kỳ, bất thường sẽ do Điều lệ công ty quy định cụ thể. Cuộc họp Hội đồng thành viên được triệu tập theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc được yêu cầu triệu tập bởi nhóm thành viên nắm ít vốn trong công ty:

(i) thành viên/nhóm thành viên sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên (hoặc tỷ lệ nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ);

(ii) trường hợp công ty có một thành viên sở hữu trên 90% vốn điều lệ mà Điều lệ không quy định thẩm quyền yêu cầu triệu tập hợp cho thành viên/nhóm thành viên sở hữu dưới 10% vốn Điều lệ thì nhóm thành viên còn lại đương nhiên có thẩm quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên. Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi của những thành viên nắm ít vốn trong công ty trong quá trình tham gia vào hoạt động quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên. Nếu trong trường hợp thành viên nhóm thành viên này yêu cầu mà Chủ tịch Hội đồng thành viên không triệu tập cuộc họp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thì thành viên/nhóm thành viên đó sẽ có quyền triệu tập Hội đồng thành viên. Cuộc họp Hội đồng thành viên được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất với tỷ lệ là số thành viên dự họp sở hữu ít nhất 65% vốn điều lệ (tỷ lệ cụ thể do Điều lệ quy định); lần thứ hai là 50% và lần thứ ba không phụ thuộc số thành viên dự họp và số vốn điều lệ được đại diện bởi số thành viên dự họp. 

Việc quản lý công ty của Hội đồng thành viên được dựa trên cơ chế ra Nghị quyết. Nghị quyết có thể được thông qua bằng hình thức lấy ý kiến bằng văn bản hoặc biểu quyết tại cuộc họp.

Về nguyên tắc, việc quyết định hình thức thông qua Nghị quyết sẽ do Điều lệ công ty quy định. Tuy nhiên nếu Điều lệ không quy định, Luật Doanh nghiệp có quy định một số vấn đề quan trọng phải ra Nghị quyết bắt buộc bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp như: Sửa đổi, bổ sung nội dung của Điều lệ; quyết định phương hướng phát triển công ty; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên; bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; thông qua báo cáo tài chính hằng năm; tổ chức lại hoặc giải thể công ty.

Đây là các vấn để then chốt có tính chất quyết định tới hoạt động tổ chức nội bộ cũng như hoạt động kinh doanh của công ty. Tỷ lệ thông qua Nghị quyết của Hội đồng thành viên như sau: 

Đối với việc biểu quyết tại cuộc họp: Nếu Điều lệ công ty không quy định khác thì phải được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp tán thành, đối với một số vấn đề quan trọng như quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, tổ chức lại, giải thể công ty thì phải được số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp tán thành. 

Đối với việc lấy ý kiến bằng văn bản: Phải được số thành viên sở hữu ít nhất 65% vốn điều lệ tán thành; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định. 

Giám đốc, Tổng giám đốc 

Giám đốc là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty TNHH hai thành viên trở lên. Giám đốc công ty có thể được kiêm nhiệm bởi Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc có thể là một thành viên khác được Hội đồng thành viên bầu hoặc là người được Hội đồng thành viên thuê. Giám đốc công ty phải là người có đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối tượng bị cấm quản lý công ty (Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014), có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác’. Giám đốc có các quyền hạn và nhiệm vụ cơ bản: 

Thứ nhất: Tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Hội đồng thành viên và chịu sự giám sát của Hội đồng thành viên về việc triển khai này. 

Thứ hai: Quyết định các vấn đề điều hành kinh doanh hàng ngày thuộc phạm vi nhiệm vụ được phân công của mình. 

Thứ ba: Tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh và việc đầu tư của công ty, ký kết các hợp đồng kinh doanh đúng thẩm quyền. | Thứ tư, tổ chức thực hiện việc quản lý nội bộ thuộc phạm vi thẩm quyền như ban hành các quy chế quản lý nội bộ, bổ nhiệm/miễn nhiệm/bãi nhiệm các chức danh quản lý trong công ty (trừ các trường hợp thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên), tuyển dụng lao động

* Ngoài ra, đối với công ty con của công ty cổ phần vốn góp, cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì ngoài các tiêu chuẩn và điều kiện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không được là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người quản lý công ty mẹ và người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty đó. (Điều 65 Luật Doanh nghiệp 2014) 

Thứ năm: Đề xuất và kiến nghị các phương án kinh doanh, cơ cấu tổ chức công ty; báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên Hội đồng thành viên; kiến nghị việc sử dụng lợi nhuận và xử lý lỗ… 

Ngoài ra, các quyền hạn và nhiệm vụ của Giám đốc công ty sẽ do Điều lệ quy định cụ thể. 

Ban kiểm soát 

Ban kiểm soát là cơ quan giám sát, kiểm tra trong công ty. Tuy nhiên, đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, Ban kiểm soát chỉ bắt buộc thành lập với công ty có từ 11 thành viên trở lên, công ty dưới 11 thành viên có thể thành lập Ban kiểm soát phù hợp với yêu cầu quản trị của công ty. 

Điều lệ công ty cần phải quy định rõ về các tiêu chuẩn, điều kiện, chế độ làm việc, các quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát do cơ quan này đóng vai trò khá quan trọng mà Luật Doanh nghiệp lại không có các quy định dự liệu cho công ty. Sở dĩ Luật Doanh nghiệp không có nhiều quy định bởi bản thân công ty TNHH hai thành viên trở lên đã có một cơ chế quản lý khá chặt chẽ từ sự tham gia một thiết của các thành viên công ty vào hoạt động chung. Do yếu tố rủi ro dù có, nhưng không cao bằng một số mô hình như công ty cổ phần, công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu, nên sự can thiệp của pháp luật vào hoạt động quản trị, đặc biệt là cơ chế giám sát không chặt chẽ, doanh nghiệp tự quyết vấn đề này. . 

Tuy nhiên, có thể hiểu Ban kiểm soát là cơ quan làm việc theo cơ chế tập thể, đứng đầu là Trưởng Ban kiểm soát, do Hội đồng thành viên bầu ra hoặc thuê để giúp các thành viên giám sát các hoạt động của công ty, giám sát việc quản lý điều hành công ty của các chức danh quản lý, giúp đảm bảo sự vận hành công ty đúng mục đích, minh bạch và hiệu quả.

 

Góp vốn, chuyển nhượng vốn và thừa kế phần vốn góp 

 Góp vốn vào công ty TNHH hai thành viên trở lên 

– Về tài sản góp vốn: Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty. Thành viên phải góp đầy đủ, đúng hạn bằng loại tài sản đã cam kết, nếu thay đổi loại tài sản góp vốn đã cam kết thì phải được sự nhất trí của đa số các thành viên còn lại. Đối với loại tài sản góp vốn không phải tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng thì việc góp vốn phải được định giá. 

– Định giá tại thời điểm thành lập doanh nghiệp: Do các thành viên sáng lập xác định theo nguyên tắc nhất trí. Nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì thành viên sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế. 

– Định giá tại thời điểm doanh nghiệp đang hoạt động: Do Hội đồng thành viên và người góp vốn thoả thuận trên cơ sở tự định giá hoặc một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn và thành viên Hội đồng thành viên cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.

Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn: Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty. Khi góp vốn vào CTTNHH, thành viên phải tiến hành chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty. Thật 

– Tiến độ góp vốn: Thành viên có thể góp vốn một lần hoặc nhiều lần; phải góp vốn đúng như tiến độ cam kết. Tuy nhiên, hiện nay, tại thời điểm thành lập công ty, thành viên chỉ được cam kết góp vốn trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Thời hạn cam kết góp vốn tối đa những lần góp vốn sau khi công ty đã được thành lập do Điều lệ quy định cụ thể.

Có thể thấy, Luật Doanh nghiệp hiện hành chỉ kiểm soát chặt chẽ về thời gian góp vốn theo cam kết tại thời điểm công ty mới được thành lập, nhằm đảm bảo tại thời điểm khởi đầu, công ty được vận hành dựa trên một nguồn lực thực tế. Từ đó, tránh được tình trạng tài sản trên sổ sách giấy tờ của công ty thì nhiều, nhưng tài sản thực tế lại không cao, dễ dẫn tới rủi ro cho bên thứ ba trong quan hệ làm ăn với công ty. 

Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất, người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với loại tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được lập thành biên bản giao nhận tài sản góp vốn. Theo quy định hiện hành, tại thời điểm thành lập doanh nghiệp, thành viên nếu góp đủ phần vốn góp sẽ được cấp giấy chứng nhận phần vốn đó. Tuy nhiên, nếu thành viên cam kết góp vốn thì chỉ được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp tại thời điểm góp đủ giá trị phần vốn góp đã cam kết’. Nếu trong trường hợp các thành viên cam kết góp vốn tại thời điểm sau khi công ty được thành lập thì việc cấp giấy chứng nhận vốn góp sẽ do công ty quyết định. 

Chuyển nhượng vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên

Chuyển nhượng vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là hành vi của thành viên công ty tiến hành chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền và nghĩa vụ tương ứng với phần vốn góp của mình trong công ty cho thành viên khác hoặc cá nhân, tổ chức khác không phải thành viên. Theo đó, các quyền và nghĩa vụ này sẽ có giá trị bằng tiền hoặc các giá trị vật chất khác theo thoả thuận của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng. 

Thành viên có quyền chuyển nhượng vốn ra bên ngoài với điều kiện (nghĩa vụ) đã “ưu tiên” chào bán trong công ty trước trong vòng 30 ngày (lưu ý là để đảm bảo công bằng, pháp luật hiện hành quy định thành viên chào bán phần vốn góp cho các thành viên còn lại với cùng điều kiện và tương ứng với tỷ lệ vốn góp của họ trong công ty. Chào bán cho người không phải thành viên cũng phải cùng điều kiện khi chào bán cho các thành viên trong công ty). Các thành viên còn lại nếu không muốn có người ngoài tham gia vào công ty thì phải cùng nhau mua hết số vốn của thành viên chuyển nhượng (được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng vốn nhưng chỉ có thể kiểm soát sự hạn chế của người ngoài vào công ty nếu thực hiện hành vi mua phần vốn góp của thành viên muốn chuyển nhượng). Cơ chế này vừa giúp đảm bảo tính chất “đóng” của mô hình đối nhân, nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi của các thành viên đối với phần vốn góp của mình. 

Tuy nhiên, có một số trường hợp áp dụng theo cơ chế chuyển nhượng đặc biệt bao gồm: Sử dụng phần vốn góp để trả nợ (khoản 6 Điều 54 Luật Doanh nghiệp năm 2014) và chuyển nhượng vốn sau khi thành viên yêu cầu công ty mua lại mà không thoả thuận được về giá hoặc công ty không đủ khả năng mua lại (khoản 3 Điều 52) thì thành viên không cần tuân theo nguyên tắc như trên. Cụ thể như sau: 

(i) Trường hợp thành viên muốn sử dụng phần vốn góp để trả nợ: Thành viên công ty có thể sử dụng phần vốn góp của mình để trả trực tiếp một nghĩa vụ nợ nào đó, hoặc sử dụng như một loại tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ nợ khi đến hạn. Như vậy, về mặt bản chất, đây cũng là một hành vi chuyển nhượng vốn. Tuy nhiên, trong trường hợp chuyển nhượng đặc biệt này, người nhận thanh toán chỉ có thể trở thành thành viên nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận. Nếu người nhận thanh toán nợ bằng vốn góp này không muốn trở thành thành viên, hoặc muốn trở thành thành viên nhưng Hội đồng thành viên không chấp thuận, thì người này mới phải tiến hành chào bán phần vốn góp theo quy định tại Điều 53 Luật Doanh nghiệp (2014); 

 (ii) Trường hợp khi thành viên có yêu cầu mua lại phần vốn góp mà công ty không mua lại, thì thành viên có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác. Trong trường hợp này, việc chuyển nhượng không bắt buộc phải thực hiện theo nguyên tắc ưu tiên thành viên hiện hữu trong công ty mua trước. 

Đối với hai trường hợp đặc biệt là sử dụng vốn để trả nợ, chuyển nhượng vốn sau khi yêu cầu công ty mua lại theo quy định pháp luật mà không thành, thì quy định loại trừ việc áp dụng theo cơ chế “ưu tiên chuyển nhượng nội bộ” là hợp lý, điều này nhằm đảm bảo quyền lợi cho thành viên có nhu cầu chuyển nhượng. Điều này cũng thể hiện rõ tính trung gian giữa đối nhân và đối vốn của công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Thừa kế phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên 

Theo quy định hiện hành, nếu thành viên là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên của công ty. Trong trường hợp phần vốn của thành viên là cá nhân chết mà người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì phần vốn góp đó sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật dân sự về thừa kế. Trường hợp tài sản không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước”. Trong trường hợp này, việc xử lý phần vốn góp như thế nào sẽ do Điều lệ công ty quy định hoặc có thoả thuận với cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước. 

Về nguyên tắc, khi thành viên yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp (có căn cứ hợp pháp theo quy định khoản 1 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2014) thì công ty phải mua lại với nguyên tắc thoả thuận về giá hoặc mua theo giá thị trường hoặc giá được định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu công ty chỉ được phép từ chối mua lại phần vốn góp nếu sau khi thực hiện việc mua lại phần vốn góp thì công ty không đủ khả năng để thanh toán các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác (khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2014).

Trường hợp người thừa kế không muốn trở thành thành viên thì theo quy định hiện hành, phần vốn góp của thành viên đó sẽ được công ty mua lại hoặc chuyển nhượng theo quy định pháp luật. Quy định này còn khá chung chung, do đó trong thực tế sẽ có thể nảy sinh mâu thuẫn nội bộ nếu các bên không thoả thuận được phần vốn này sẽ do công ty mua lại hay sẽ phải chuyển nhượng cho các thành viên theo nguyên tắc “ưu tiên” cho các thành viên hiện hữu. Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp còn chưa dự liệu trường hợp nếu người thừa kế phần vốn góp là người không đủ điều kiện theo pháp luật để trở thành thành viên công ty thì cách thức xử lý phần vốn này sẽ theo nguyên tắc, trình tự nào?

Chuyển đổi công ty TNHH hai thành viên trở lên

Nhắc đến thuật ngữ “chuyển đổi”, cách tiếp cận hiện nay của Luật Doanh nghiệp 2014 là chuyển đổi mô hình doanh nghiệp. Do đó, theo luật này, công ty TNHH hai thành viên trở lên có nhu cầu chuyển đổi sang một mô hình hoạt động khác thì chỉ có trường hợp chuyển sang công ty cổ phần. Việc chuyển đổi mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty cổ phần sẽ tất yếu dẫn đến sự thay đổi kết cấu về vốn và cơ cấu tổ chức nội bộ doanh nghiệp. Các phương thức chuyển đổi sang công ty cổ phần như sau: 

– Chuyển đổi thành công ty cổ phần mà không huy động thêm tổ chức, cá nhân khác cùng góp vốn, không bán phần vốn góp cho tổ chức, cá nhân khác. Trường hợp này, sau khi chuyển đổi, công ty không có sự thay đổi về thành viên công ty và cũng không có sự thay đổi về số vốn điều lệ. 

– Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách huy động thêm tổ chức, cá nhân khác góp vốn. Trường hợp này, sau khi chuyển đổi, công ty có sự thay đổi theo hướng tăng thêm số lượng thành viên và tăng vốn điều lệ. 

– Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách bán toàn bộ hoặc một phần phần vốn góp cho một hoặc một số tổ chức, cá nhân khác. Trường hợp này, sau chuyển đổi, công ty sẽ thay đổi toàn bộ thành viên. 

Ngoài ra, công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng có thể kết hợp các phương thức trên để tiến hành chuyển đổi. Về mặt thủ tục, công ty phải tiến hành đăng ký chuyển đổi với cơ quan đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc chuyển đổi. Cơ quan đăng ký doanh nghiệp cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho công ty trong thời hạn 05 ngày làm việc. Công ty sau chuyển đổi sẽ kế thừa toàn bộ các quyền và lợi ích hợp pháp cũng như toàn bộ các nghĩa vụ của công ty cũ. 

Như vậy, hiện nay pháp luật về doanh nghiệp chỉ quy định việc công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty cổ phần mà không có quy định công ty TNHH hai thành viên trở lên chuyển đổi thành doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh do có sự khác nhau cơ bản về mặt bản chất, cơ chế chịu trách nhiệm cũng như cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Ngoài ra, cần lưu ý rằng nếu công ty TNHH hai thành viên trở lên giảm số lượng thành viên còn một thành viên thì không được coi là chuyển đổi doanh nghiệp theo quy định hiện hành, công ty chỉ thực hiện thủ tục thay đổi số lượng thành viên và tổ chức lại theo loại hình công ty TNHH một thành viên.

->>>>> Tham khảo thêm: Thành lập công ty tnhh

->>>>> Tham khảo thêm: Thành lập công ty cổ phần