Một số quy định về công ty cổ phần

  • Tác giả: Nguyễn Kiều |
  • Cập nhật: 03/03/2022 |
  • Tư vấn doanh nghiệp |
  • 69 Lượt xem

Chuyển đổi công ty cổ phần

Khi tiến hành hoạt động, vì những lý do và mục đích khác nhau mà Đại hội đồng cổ đông có thể quyết định chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Quyết định chuyển đổi công ty cổ phần thành loại hình doanh nghiệp khác thể hiện một trong các quyền tự do kinh doanh của các cổ đông là chủ sở hữu của công ty cổ phần. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, công ty cổ phần không thể tự do chuyển đổi sang bất kỳ loại hình tổ chức kinh tế nào. Công ty cổ phần là công ty đối vốn vì vậy không thể chuyển đổi sang những loại hình doanh nghiệp mang tính đối nhân hoàn toàn hay chủ sở hữu chịu chế độ trách nhiệm vô hạn như công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân. 

Có thể có những lý do khách quan hay chủ quan dẫn đến việc công ty cổ phần chuyển đổi thành doanh nghiệp khác, tuy nhiên quyết định chuyển đổi hoàn toàn thuộc về Đại hội đồng cổ đông hoặc các nhà đầu tư. 

 Công ty cổ phần chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 

Công ty cổ phần có thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo phương thức sau đây: 

– Một cổ đông nhận chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của tất cả các cổ đông còn lại; 

– Một tổ chức hoặc cá nhân không phải là cổ đông nhận chuyển nhượng toàn bộ số cổ phần của tất cả cổ đông của công ty; 

– Công ty chỉ còn lại một cổ đông trong thời gian vượt quá thời hạn yêu cầu số lượng cổ đông tối thiểu của công ty cổ phần. 

Công ty chuyển đổi đương nhiên kế thừa toàn bộ các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, gồm cả nợ thuế, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ khác của công ty được chuyển đổi. 

Công ty cổ phần chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 

Công ty cổ phần có thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn theo phương thức sau đây:

– Chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn mà không huy động thêm hoặc chuyển nhượng cổ phần cho tổ chức, cá nhân khác; 

– Chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn đồng thời với chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần của toàn bộ hoặc một phần cổ phần cho tổ chức, cá nhân khác góp vốn; 

– Chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn kết hợp các phương thức quy định tại các trường hợp trên. 

Công ty chuyển đổi đương nhiên kế thừa toàn bộ các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, gồm cả nợ thuế, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ khác của công ty được chuyển đổi. 

Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với các trường hợp chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn 

Trường hợp chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, hồ sơ đăng ký chuyển đổi gồm: 

– Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp;

– Điều lệ công ty chuyển đổi; 

– Nghị quyết và bản sao hợp lệ biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông về việc chuyển đổi công ty; 

– Danh sách thành viên; 

– Hợp đồng chuyển nhượng phần cổ phần hoặc các giấy tờ chứng minh hoàn tất việc chuyển nhượng hoặc thỏa thuận góp vốn đầu tư. B Đối với trường hợp công ty cổ phần chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hoàn thành các sự kiện dẫn đến việc chuyển đổi, công ty nộp hồ sơ tại Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đã đăng ký. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. 

Đối với trường hợp công ty cổ phần chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Công ty phải đăng ký chuyển đổi với Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc chuyển đổi. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

 

Phòng, tránh rủi ro pháp lý trong tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần

Rủi ro pháp lý trong tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần 

Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng thường xuyên phải đối mặt và tìm cách ứng xử hợp lý với rất nhiều rủi ro. Một trong số đó là rủi ro pháp lý. Rủi ro pháp lý là vấn đề được nhiều nhà đầu tư quan tâm và có ý thức đề ra những biện pháp phòng tránh, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay. 

Cho đến thời điểm hiện tại, khái niệm về rủi ro pháp lý chưa được thống nhất. Những khái niệm được đưa ra từ các nguồn tài liệu hay các tác giả rất đa dạng. Luật sư Lê Trọng Thêm trong website danluat.thuvienphapluat.vn nêu quan điểm về rủi ro pháp lý trong chủ đề “Kiểm soát rủi ro pháp lý của doanh nghiệp”: “Rủi ro pháp lý là một sự kiện pháp lý có thể xảy ra hoặc không xảy ra (tức là có xác suất dưới 100%) và khi xảy ra, nó sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu của tổ chức”.

Từ điển Black’s Law giải nghĩa rủi ro là sự mất mát, nguy hiểm hoặc khả năng gây tổn thất. B Pháp luật dân sự quy định rủi ro là những tổn thất có thể xảy ra nhưng không xuất phát từ hành vi có lỗi của bất kỳ chủ thể nào, nguyên nhân gây ra rủi ro xuất phát từ những sự kiện khách quan, bất khả kháng. Nếu những tổn thất xảy ra mà do hành vi có lỗi của chủ thể xác định thì được coi là thiệt hại và chủ thể có lỗi buộc phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. 

Tuy nhiên, trong vấn đề tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp, rủi ro pháp lý thường được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Có thể hiểu, rủi ro pháp lý trong tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần là những thiệt hại hay tổn thất có thể xảy ra đối với công ty cổ phần phát sinh trong việc thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của công ty. Việc phòng tránh rủi ro pháp lý trong tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần đóng vai trò rất quan trọng với việc duy trì và phát triển | hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 

Rủi ro pháp lý trong tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần có một số những đặc điểm sau: 

Thứ nhất, chủ thể gánh chịu những thiệt hại, tổn thất là công ty cổ phần. Những thiệt hại, tổn thất vật chất hoặc phi vật chất có thể xảy đến với doanh nghiệp trong việc thực hiện, áp dụng quy định pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần. 

Thứ hai, xuất phát từ nguồn gốc rủi ro, rủi ro về tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần bao gồm nhóm rủi ro có nguồn gốc bên trong và nhóm rủi ro có nguồn gốc bên ngoài. Những rủi ro có nguồn gốc bên trong xuất phát từ các yếu tố thuộc nội bộ của doanh nghiệp như cơ cấu tổ chức công ty, quyền và nghĩa vụ của những cá nhân, bộ máy trong công ty, nội dung điều lệ… Những rủi ro có nguồn gốc bên ngoài xuất phát từ các yếu tố bên ngoài không thuộc doanh nghiệp như hoạt động đầu tư kinh doanh, mối quan hệ với cơ quan nhà nước… Các rủi ro pháp lý phát sinh từ việc thực hiện pháp luật. Đó có thể là nguyên nhân các chủ thể chưa tuân thủ pháp luật (tức là vẫn thực hiện các hoạt động mà pháp luật cấm), chưa thi hành pháp luật (tức là không tiến hành các hoạt động mà pháp luật buộc phải làm) hay trong quá trình sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật gặp phải những tình huống mà quy định pháp luật chưa rõ ràng, cách hiểu nội dung các quy định pháp luật chưa thống nhất… 

Thứ ba, phạm vi của rủi ro pháp lý trong tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần khá rộng. Phạm vi dàn trải trong các quan hệ pháp luật dân sự, hình sự, hành chính, lao động, thương mại đầu tư, đất đai. B Thứ tư, mức độ thiệt hại của rủi ro pháp lý trong tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần khó tiên lượng. Mặc dù các doanh nghiệp có thể chủ động trong việc phòng tránh hay hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ rủi ro tuy nhiên cũng chỉ có thể dừng lại ở mức độ tương đối. Các doanh nghiệp khó có thể đoán định và đánh giá chính xác mức độ thiệt hại nếu rủi ro pháp lý có xảy ra do nó còn ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan. 

->>>>>> Tham khảo thêm: Thành lập công ty cổ phần

Các biện pháp phòng tránh rủi ro pháp lý trong tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần 

Như đã đề cập, rủi ro pháp lý phát sinh từ việc thực hiện pháp luật. Vì vậy, việc tiên lượng và đề xuất những phương án xử lý phù hợp với những tổn thất có thể xảy đến với công ty cổ phần trong các sự kiến pháp lý là vô cùng cần thiết. Để phòng tránh rủi ro pháp lý trong tổ chức và hoạt động, công ty cổ phần cần tuân thủ một số những yêu cầu cơ bản sau: 

Thứ nhất, doanh nghiệp xác định được các sự kiện pháp lý phát sinh các quan hệ pháp luật mà doanh nghiệp là một trong các bên chủ thể tham gia.

Thứ hai, doanh nghiệp cần xác định nguyên nhân dẫn đến những rủi ro pháp lý có thể xảy ra. Việc nhận diện chính xác nguyên nhân sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng cho mình biện pháp phòng tránh rủi ro đúng đắn. 

Thứ ba, doanh nghiệp cần đưa ra nhiều hơn một giải pháp dự phòng để có thể chủ động trong việc xử lý những rủi ro pháp lý. Những phương pháp phòng tránh cơ bản: 

+ Phòng tránh những rủi ro xuất phát từ việc không tuân thủ pháp luật về tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần: Các doanh nghiệp cần tìm hiểu rõ quy định của pháp luật để không tiến hành những hành vị mà pháp luật cấm. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật là một trong các điều kiện để giao dịch đó có hiệu lực. Giao dịch vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi giao dịch vô hiệu, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã thực hiện. Đây là rủi ro pháp lý hiện hữu tất yếu nếu công ty cổ phần vướng phải. Rõ ràng, đối với một doanh nghiệp kinh doanh thương mại, giao dịch dân sự vô hiệu đem lại những tổn thất và phiền toái không nhỏ. Thậm chí doanh nghiệp cùng các chủ thể có liên quan còn có thể phải đối mặt với những rủi ro hình sự. Biện pháp phòng tránh đơn giản và hữu hiệu đòi hỏi công ty cổ phần cần thực hiện là tuyệt đối không vi phạm những quy định cấm của pháp luật. 

+ Phòng tránh những rủi ro xuất phát từ việc thi hành pháp luật về tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần: doanh nghiệp cần tiến hành các hoạt động mà pháp luật buộc phải làm. Nếu không tiến hành các hoạt động mà pháp luật buộc phải làm, doanh nghiệp có thể phải gánh chịu trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính hoặc thậm chí là trách nhiệm hình sự. 

+ Phòng tránh những rủi ro xuất phát từ việc sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật: doanh nghiệp sẽ được quyền chủ động linh hoạt hơn trong việc quyết định hoạt động của mình để đảm bảo tránh các rủi ro. Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó, các chủ thể tiến hành những hoạt động mà pháp luật cho phép. Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó, các chủ thể tiến hành các hoạt động có sự can thiệp của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền. Nếu như các quy định của pháp luật trong việc tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật mang tính tuyệt đối thì các quy định trong việc sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật mang tính tùy nghi. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức và hoạt động, công ty cổ phần có thể gặp phải trường hợp mà các quy định pháp luật chưa điều chỉnh hay chưa có cách hiểu thống nhất về các quy định. Trong từng hoàn cảnh cụ thể, giải pháp sẽ hài hòa mục tiêu của doanh nghiệp và không trái pháp luật. 

->>>>>> Tham khảo thêm: Thành lập doanh nghiệp