Chế Độ Tử Tuất Một Lần, Hàng Tháng Mới Nhất Năm 2020

  • Tác giả: admin |
  • Cập nhật: 06/07/2020 |
  • Tư vấn bảo hiểm xã hội |
  • 176 Lượt xem

Chế độ tử tuất hàng tháng như thế nào?

So với Luật bảo hiểm xã hội năm 2006, về cơ bản, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 vẫn kế thừa các trường hợp, điều kiện được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng. Ngoài ra, Luật BHXH năm 2014 còn ghi nhận thêm một số nội dung sau:

Quy định cụ thể về những trường hợp được coi là thân nhân: Thân nhân theo quy định của Luật BHXH năm 2006 là: “Con, vợ hoặc chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng của người tham gia BHXH; người khác mà người tham gia BHXH phải chịu trách nhiệm nuôi dưỡng”.

Theo quy định tại Luật BHXH năm 2014 thân nhân là “Con đẻ, con nuôi, vợ hoặc chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chống của người tham gia BHXH hoặc thành viên khác trong gia đình mà người tham gia BHXH đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình”.

Như vậy, đối tượng là thân nhân đã được bổ sung, cụ thể hóa đối tượng là con nuôi, cha nuôi, mẹ nuôi để giúp cho việc tổ chức thực hiện tránh vướng mắc. Ngoài ra, Luật BHXH năm 2014 sửa đổi đối tượng thân nhân là “Người khác mà người tham gia BHXH phải chịu trách nhiệm nuôi dưỡng” theo Luật BHXH năm 2006 bằng cụm từ “Thành viên khác trong gia đình mà người tham gia BHXH đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình”.

>>> Tham khảo: Hướng Dẫn Cách Tra Cứu Quá Trình Đóng Bảo Hiểm Xã Hội năm 2020

 

Việc Luật BHXH năm 2014 quy định cụ thể hơn, chặt chẽ hơn về những trường hợp được coi là thân nhân nhằm hạn chế lạm dụng cũng như vướng mắc trong tổ chức thực hiện khi phải xác định như thế nào là đối tượng khác.

Quy định điều kiện hưởng trợ cấp tuất của thân nhân là con được sửa đổi về tuổi hưởng chế độ: Con chưa đủ 18 tuổi theo Luật BHXH năm 2014 thay cho con chưa đủ 15 tuổi theo Luật BHXH năm 2006; con từ đủ 18 tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên theo Luật BHXH năm 2014 thay cho con từ đủ 15 tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên theo Luật BHXH năm 2006;

Luật BHXH năm 2014 đã bỏ nội dung “Con chưa đủ 18 tuổi nếu còn đi học” vì đã áp dụng chung mốc tuổi hưởng là “Con chưa đủ 18 tuổi”. Như vậy, độ tuổi cơ bản của thân nhân là con được ghi nhận là 18 tuổi thay vì quy định là 15 tuổi theo Luật BHXH năm 2006. Bên cạnh đó, Luật BHXH năm 2014 bổ sung đối tượng “Con khi người bố chết mà người mẹ đang mang thai” nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế, mang tính nhân văn, nhân đạo và ý nghĩa xã hội của chính sách pháp luật về ASXH.

Bên cạnh đó, Luật BHXH năm 2014 bổ sung, luật hóa quy định về điều kiện mà đối tượng thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng đó là phải không có thu nhập hoặc có thu nhập hằng tháng nhưng thấp hơn mức lương cơ sở. Thu nhập được tính “Không bao gồm khoản trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công”. Quy định về thời hạn đề nghị khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với thân nhân để hưởng trợ cấp tuất hằng tháng.

Theo đó, trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày người tham gia BHXH chết thì thân nhân có nguyện vọng phải nộp đơn đề nghị; trong thời hạn 04 tháng trước hoặc sau thời điểm thân nhân là con hết thời hạn hưởng trợ cấp theo quy định thì thân nhân có nguyện vọng phải nộp đơn đề nghị. Ngoài ra, Luật BHXH năm 2014 còn bổ sung quy định về thời điểm hưởng trợ cấp tuất hằng tháng đối với trường hợp “Khi bố chết mà người mẹ đang mang thai thì thời điểm hưởng trợ cấp tuất hằng tháng của con tính từ tháng con được sinh ra”.

Quy định này phù hợp với nội dung về đối tượng thân nhân hưởng tuất hằng tháng được quy định trong Luật BHXH năm 2006.

>>> Tham khảo: Bảo hiểm xã hội là gì? Các vấn đề liên quan bảo hiểm xã hội năm 2020

Mức hưởng trợ cấp tử tuất hàng tháng?

Về cơ bản, mức trợ cấp tuất hằng tháng trong Luật BHXH năm 2014 không thay đổi mà chỉ thay cụm từ “Mức lương tối thiểu chung” thành cụm từ “Mức lương cơ sở”.

Ngoài ra, thời điểm hưởng trợ cấp tuất hằng tháng được thực hiện kể từ tháng liền kề sau tháng  mà đối tượng quy định nêu trên chết. Trường hợp khi bố chết mà người mẹ đang mang thai thì thời điểm hưởng trợ cấp tuất hằng tháng của con tính từ tháng con được sinh.

>>> Tham khảo: Thời Điểm Hưởng Lương Hưu Mới Nhất Năm 2020

Mức hưởng trợ cấp tử tuất một lần như thế nào?

Để bảo đảm công bằng giữa những người đóng BHXH mà chưa được hưởng quyền lợi, đồng thời cụ thể hóa nguyên tắc mức hưởng BHXH dựa trên cơ sở mức đóng bảo hiểm xã hội và thời gian đóng BHXH, mức trợ cấp tuất một lần được tính trên thời gian NLĐ đã, đang hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH.

Luật BHXH năm 2014 ghi nhận người được hưởng trợ cấp mai táng thuộc một trong các trường hợp sau khi chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần (tương | tự như Luật BHXH năm 2006):

 – NLĐ chết không thuộc các trường hợp được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng.

– NLĐ chết thuộc một trong các trường hợp được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng nhưng không có thân nhân hưởng tiền tuất hằng tháng quy định tại Luật này. Bên cạnh đó, Luật BHXH năm 2014 còn bổ sung 02 trường hợp được hưởng trợ cấp tuất một lần:

– Thân nhân thuộc diện hưởng trợ cấp tuất hằng tháng theo quy định mà có nguyện vọng hưởng trợ cấp tuất một lần, trừ trường hợp con dưới 06 tuổi, con hoặc vợ hoặc chồng mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

– Trường hợp NLĐ chết mà không có thân nhân là con đẻ, con nuôi, vợ hoặc chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng hoặc thành viên khác trong gia đình mà họ đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì trợ cấp tuất một lần được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Ngoài ra, đối với cách tính mức trợ cấp tuất một lần có sự thay đổi so với Luật BHXH năm 2006.

Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của NLĐ đang tham gia BHXH hoặc NLĐ đang bảo lưu thời gian đóng BHXH (thay cụm từ “Đang làm việc” bằng cụm từ “Đang tham gia BHXH”) = (1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH (x) số năm đã đóng BHXH trước năm 2014) + (02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH (1) số năm đóng BHXH từ năm 2014 trở đi). Mức thấp nhất bằng 03 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH làm căn cứ tính trợ cấp tuất một lần thực hiện theo quy định mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần. Như vậy, tiền trợ cấp tuất một lần đối với trường hợp NLĐ đang tham gia BHXH hoặc đang bảo lưu thời gian đóng BHXH chết được tăng từ 1,5 tháng lên 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho mỗi năm đóng BHXH từ năm 2014 trở đi.

Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương hưu chết không thay đổi so với Luật BHXH năm 2006. Mức lương cơ sở dùng để tính trợ cấp tuất một lần là mức lương cơ sở tại tháng mà NLĐ theo quy định được hưởng trợ cấp mai táng chết. Đây là quy định được Luật BHXH năm 2014 bổ sung nhằm cụ thể hóa cách tính trợ cấp, tránh gây nhầm lẫn.

Tuy nhiên, Luật BHXH vẫn chưa quy định cho phép thân nhân NLĐ được lựa chọn hưởng trợ cấp tuất hằng tháng hoặc trợ cấp tuất một lần: Thân nhân thuộc diện hưởng trợ cấp tuất hằng tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 67 có nguyện vọng hưởng trợ cấp tuất một lần, trừ trường hợp con dưới 06 tuổi, con hoặc vợ hoặc chồng bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên(Khoản 3 Điều 69 Luật BHXH năm 2014). Trên thực tế, nếu như thời gian hưởng trợ cấp tuất hằng tháng quá ngắn như con chuẩn bị hết tuổi hưởng trợ cấp, bố mẹ quá già yếu… thì cần quy định cho thân nhân NLĐ được lựa chọn hưởng trợ cấp tuất hằng tháng hoặc trợ cấp tuất một lần nhằm bảo đảm sự công bằng, nguyện vọng của thân nhân NLĐ và bảo đảm nguyên tắc đóng – hưởng trong thực hiện chế độ tử tuất.

>>> Tham khảo: Hướng dẫn cách tính bảo hiểm xã hội 1 lần mới nhất năm 2020

TƯ VẤN BẢO HIỂM GỌI: 1900.6560GIẢI ĐÁP THẮC MẮC BẢO HIỂM 24/7

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN MIỄN PHÍ – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6560 – “Giải pháp cho vấn đề của bạn”