Cách Tính Lương Hưu Hàng Tháng Mới Nhất Năm 2020

  • Tác giả: admin |
  • Cập nhật: 23/06/2020 |
  • Tư vấn bảo hiểm xã hội |
  • 368 Lượt xem

Về cách tính lương hưu hằng tháng (Điều 56, Điều 62, Điều 63 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014)

Lương hưu của NLĐ bằng tỷ lệ % lương hưu nhân với mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ tính lương hưu của NLĐ.

– Về tỷ lệ % lương hưu (Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014):

+ Đối với NLĐ không bị suy giảm khả năng lao động

Luật BHXH năm 2014 chia thành hai giai đoạn với hai cách tính tỷ lệ % lương hưu khác nhau (giai đoạn năm 2016 và năm 2017; giai đoạn từ năm 2018 trở đi).

Năm 2016 và năm 2017 cách tính tỷ lệ % lương hưu vẫn giữ nguyên như quy định của Luật BHXH năm 2006, cụ thể: mức lương hưu hằng tháng của NLĐ được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, mức lương hưu hằng tháng của NLĐ được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH tương ứng với số năm đóng BHXH như sau: Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm;

Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm. Sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH, NLĐ được tính thêm 2% (không phân biệt nam, nữ); mức lương hưu tối đa bằng 75%.

Như vậy, so với Luật BHXH năm 2006, từ năm 2018 trở đi mức lương hưu của NLĐ sẽ thay đổi một cách căn bản theo xu hướng NLĐ phải có thời gian đóng BHXH dài hơn (đến 05 năm) so với Luật BHXH năm 2006 thì mới được hưởng đủ mức lương hưu tối đa là 75%.

Sự thay đổi này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu cân đối quỹ BHXH trên cơ sở tính toán tương đối hợp lý khả năng đáp ứng của NLĐ về thời gian đóng BHXH để có thể được hưởng mức lương hưu tối đa (tính theo thời gian đóng BHXH bình quân của những NLĐ hưởng lương hưu), tuổi thọ trung bình của những NLĐ hưởng lương hưu, lượng tài chính đóng vào quỹ BHXH và lượng tài chính phải chi trả lương hưu cho NLĐ… Song từ góc độ lợi ích cá nhân của người hưởng lương hưu thì quyền lợi của họ cũng bị giảm sút so với quy định của Luật BHXH năm 2006.

Một điểm mới của Luật BHXH năm 2014 là mỗi năm đóng BHXH tính từ đủ 16 năm đến dưới 20 năm của lao động nữ chỉ được cộng thêm 2% lương hưu (thay cho 3% theo quy định của Luật BHXH năm 2006). Sự thay đổi này là hợp lý bởi tỷ lệ 45% lương hưu ban đầu của lao động nữ không thay đổi (vẫn tương ứng với 15 năm đóng BHXH), trong khi đó tỷ lệ này của lao động nam bị thay đổi theo lộ trình 05 năm như đã trình bày ở trên.

+ Đối với NLĐ nghỉ hưu trước tuổi do bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên Đi Theo Luật BHXH năm 2014, từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 trở đi, cách tính tỷ lệ % lương hưu của NLĐ nghỉ hưu trước tuổi do bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên cũng có sự thay đổi cơ bản. Cụ thể, mức lương hưu hằng tháng của những NLĐ này trước hết cũng được tính như những người không bị suy giảm khả năng lao động như trên, sau đó cứ mỗi năm NLĐ nghỉ hưu trước tuổi quy định bị giảm 2% (theo quy định của Luật BHXH năm 2006 chỉ bị giảm 1%).

Mức lương hưu thấp nhất của NLĐ bằng mức lương cơ sở, trừ hai trường hợp: (1) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn; (2) Lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH và đủ 55 tuổi.

Nhìn từ góc độ lợi ích cá nhân của NLĐ hưởng lương hưu trong trường hợp nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm khả năng lao động, nhiều quan điểm cho rằng theo cách tính lương hưu của Luật BHXH năm 2014, người hưởng lương hưu sẽ bị thiệt thòi nhiều so với quy định của Luật BHXH năm 2006. Vì vậy, trên thực tế không ít NLĐ có dự định nghỉ hưu trước tuổi đã tính toán để “tìm cách nghỉ hưu trước tuổi vào năm 2015 (trước thời điểm Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực thi hành). Đứng ở góc độ lợi ích chung của xã hội, một trong những mục đích nhìn thấy rõ của quy định này là không khuyến khích, thậm chí là hạn chế NLĐ nghỉ hưu trước tuổi, đồng thời cũng là một biện pháp phòng ngừa tình trạng lạm dụng quỹ BHXH đã xảy ra trên thực tế thời gian vừa qua.

>>> Tham khảo thêm: Hướng dẫn cách tra cứu bảo hiểm xã hội đơn giản nhất

– Về mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của NLĐ (Điều 62 Luật BHXH năm 2014): 

Giống như Luật BHXH năm 2006, Luật BHXH năm 2014 cũng chia NLĐ thành ba nhóm khác nhau khi quy định về cách tính mức bình quân tiền lương làm căn cứ tính lương hưu. Cụ thể như sau:

+ Nhóm 1: Người lao động có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng  của số năm đóng BHXH trước khi nghỉ hưu như sau:

(i) Tham gia | BHXH trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 05 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

(ii) Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến ngày 31 tháng 12 năm 2000 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 06 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

(iii) Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 đến ngày 31 tháng 12 năm 2006 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 08 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

(iv) Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 đến ngày 31 tháng 12 năm 2015 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

(v) Tham gia BHXH từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến ngày 31 tháng 12 năm 2019 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 15 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

(vi) Tham gia BHXH từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến ngày 31 tháng 12 năm 2024 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 20 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

(vii) Tham gia BHXH từ ngày 01 tháng 01 năm 2025 trở đi thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian.

– Nhóm 2: Người lao động có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian.

– Nhóm 3: Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH chung của các thời gian, trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH theo cách tính của nhóm 1 nói trên.

Để bảo đảm lợi ích chính đáng của người hưởng lương hưu và phù hợp với cách tính mức bình quân tiền lương tương ứng với khoảng thời gian khá dài đóng BHXH, thậm chí là vài chục năm, Nhà nước có quy định việc điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH của NLĐ trên cơ sở chỉ giá tiêu dùng do Chính phủ quy định từng thời kỳ (Điều 63 Luật BHXH năm 2014). Theo đó, đối với NLĐ có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định mà đã tham gia BHXH trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 thì tiền lương đã đóng BHXH để làm căn cứ tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH được điều chỉnh theo mức lương cơ sở tại thời điểm hưởng lương hưu. Các đối tượng NLĐ khác được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

Điểm mới cơ bản (cũng được coi là tiến bộ nhất) trong quy định của Luật BHXH năm 2014 là đã hoàn thiện việc xác định lộ trình cụ thể để thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong cách tính lương hưu giữa những NLĐ thuộc các nhóm khác nhau, làm việc trong các khu vực khác nhau và hưởng lương từ các nguồn khác nhau (hướng tới tính bình quân của tiền lương toàn bộ thời gian tham gia BHXH không phân biệt đóng BHXH theo chế độ lương do Nhà nước quy định hay do NSDLĐ tự quy định).

>>> Tham khảo: Tỷ Lệ Đóng Bảo Hiểm Xã Hội Mới Nhất Năm 2020

TƯ VẤN BẢO HIỂM GỌI: 1900.6560GIẢI ĐÁP THẮC MẮC BẢO HIỂM 24/7

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN MIỄN PHÍ – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6560 – “Giải pháp cho vấn đề của bạn”